Tin tức - Sự kiện
Chiều sâu nhân văn và giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ



CHIỀU SÂU NHÂN VĂN VÀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI CỦA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

                                                                         GS.TS Dương Xuân Ngọc

                                                          Email: giaosuduongxuanngoc@gmail.com

                                                           DT: 0913 280 855

Tóm tắt

Dân chủ là nội dung cốt lõi trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, không chỉ được nhìn nhận như một thiết chế chính trị hay phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, mà còn hàm chứa chiều sâu nhân văn đặc sắc. Chiều sâu nhân văn thể hiện ở việc đặt con người vào vị trí trung tâm, coi mục tiêu tối thượng của dân chủ là giải phóng con người, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,  đồng thời thấm đượm tinh thần nhân ái, khoan dung và khát vọng phát triển toàn diện con người.

Trên cơ sở phân tích bản chất và những nội dung cơ bản của chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, bài viết làm rõ giá trị thời đại của tư tưởng này đối với sự nghiệp xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đó là định hướng phát huy thực chất quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, và khơi dậy, phát huy nguồn lực con người như động lực chủ yếu của phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.

Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh; dân chủ; nhân văn; quyền làm chủ của nhân dân; dân chủ xã hội chủ nghĩa.

1. Đặt vấn đề

Giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, dân chủ đồng thời là giá trị nền tảng của chế độ xã hội mới ở Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tư tưởng dân chủ của Người không chỉ được xác lập như một nguyên tắc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, mà còn được luận giải như một hệ thống quan điểm lý luận toàn diện và sâu sắc, trong đó khẳng định nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, nhằm bảo đảm và không ngừng nâng cao các giá trị cốt lõi của độc lập, tự do và hạnh phúc.

Tuy nhiên, điểm đặc sắc trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở phương diện chính trị - pháp lý, mà còn thể hiện ở chiều sâu nhân văn phong phú và nhất quán. Dân chủ, xét đến cùng, được Người tiếp cận như một giá trị vì con người, gắn với quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân vì mục tiêu giải phóng, phát triển toàn diện con người. Chính trong cách tiếp cận đó, dân chủ vượt ra khỏi khuôn khổ của một thiết chế quyền lực, trở thành biểu hiện sinh động của tinh thần nhân ái, khoan dung và khát vọng giải phóng con người. Chiều sâu nhân văn đó  hình thành trên cơ sở sự kết hợp biện chứng giữa truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam, tinh hoa tư tưởng dân chủ của nhân loại và nền tảng lý luận khoa học- cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Từ cách tiếp cận này, chiều sâu nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được tập trung phân tích về bản chất, nội dung, qua đó làm rõ giá trị thời đại của tư tưởng này đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và khơi dậy, phát huy nguồn lực con người cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

2. Bản chất chiều sâu nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Bản chất chiều sâu nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là tổng hòa những giá trị nhân bản, tiến bộ và giải phóng con người được thể hiện trong quan niệm của Người về dân chủ, trong đó con người vừa là mục tiêu tối thượng, vừa là chủ thể sáng tạo của đời sống xã hội; dân chủ gắn liền với độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ thực chất, toàn diện và ngày càng phát triển của con người. Bản chất nhân văn sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ làm cho tư tưởng dân chủ của Người vượt lên trên những khuôn khổ dân chủ hình thức, trở thành một hệ giá trị mang ý nghĩa giải phóng con người một cách toàn diện và bền vững Bản chất đó được thể hiện trên những phương diện cơ bản sau:

Một là, bản chất vì con người, mang tính nhân bản triệt để

Chiều sâu nhân văn trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trước hết và cốt lõi được biểu hiện ở bản chất vì con người, lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Đây không chỉ là quan điểm chính trị, mà còn là một triết lý nhân sinh sâu sắc, phản ánh sự kết tinh giữa chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của dân tộc Việt Nam với tinh hoa tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác-  Lênin.

Theo Hồ Chí Minh, dân chủ không phải là khái niệm trừu tượng hay hình thức chính trị thuần túy, mà là một giá trị gắn liền trực tiếp với đời sống con người, nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột và tha hóa, để con người được hưởng hạnh phúc, tự do. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[i]. Theo Người, bản chất nhân văn triệt để của dân chủ  đòi hỏi độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân; mọi giá trị chính trị đều quy tụ về con người; nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của dân chủ:“Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”[ii]. Ở đây, khái niệm “nhân dân là chủ” không chỉ dừng lại ở quyền lực chính trị mà còn bao hàm quyền làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đến quốc phòng, an ninh. Điều đó phản ánh một tầm nhìn nhân bản sâu sắc- con người không chỉ được giải phóng về mặt chính trị mà còn phải được bảo đảm các điều kiện để phát triển toàn diện năng lực và phẩm giá của mình.

Điều đặc sắc, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ phải hướng tới việc chăm lo thiết thực đời sống của con người: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[iii].

Không dừng lại ở việc khẳng định quyền con người nói chung, Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến các nhu cầu thiết yếu và quyền lợi cụ thể của con người trong đời sống hằng ngày, biểu hiện sinh động của một quan niệm dân chủ mang đậm tính nhân văn sâu sắc, trong đó con người không chỉ được thừa nhận về quyền, mà còn được bảo đảm về điều kiện sống và phát triển: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[iv].

Bản chất vì con người, mang tính nhân bản triệt để trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ còn thể hiện ở sự tôn trọng và đề cao phẩm giá con người. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân. Điều này không chỉ là yêu cầu về đạo đức chính trị, mà còn là nguyên tắc phương pháp luận trong thực hành dân chủ: mọi chủ trương, chính sách đều phải xuất phát từ con người, vì con người và do con người kiểm nghiệm.

Hai là, bản chất vì nhân dân, coi nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực

 Với Hồ Chí Minh, một nguyên lý có tính nền tảng là mọi quyền lực trong xã hội đều thuộc về nhân dân luôn được: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”[v]. Điều này không chỉ xác lập địa vị chính trị của nhân dân, mà còn khẳng định rõ tính chính danh của quyền lực nhà nước - quyền lực ấy không phải từ trên ban phát xuống, mà do nhân dân ủy quyền mà nên và phải phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân.

Theo Người, Nhân dân không chỉ là chủ thể của quyền lực, mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi quyền lực. Nhân dân có quyền kiểm soát Chính phủ, phê bình Chính phủ, bảo đảm mọi thiết chế, chính sách và hoạt động của bộ máy nhà nước đều phải hướng tới lợi ích của nhân dân, do nhân dân quyết định và vì nhân dân phục vụ: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”[vi].

Điều đó cho thấy, trong tư tưởng của Người, dân chủ không chỉ là quyền được trao, mà còn là quyền được thực hiện, quyền được kiểm tra và quyền được bảo vệ. Đây chính là biểu hiện của một nền dân chủ mang tính nhân văn sâu sắc, trong đó con người – với tư cách là nhân dân – không bị tha hóa thành đối tượng bị quản lý, mà thực sự trở thành chủ thể của quyền lực: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”[vii].

Ba là, bản chất giải phóng và phát triển con người toàn diện

Bản chất giải phóng và phát triển con người một cách toàn diện không chỉ là mục tiêu xuyên suốt mà còn là tiêu chí đánh giá giá trị và ý nghĩa thực tiễn của nền dân chủ mà Người kiến tạo. Theo Người, dân chủ chân chính phải là động lực giải phóng con người một cách toàn diện, đồng thời tạo điều kiện để con người phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần- tư tưởng mang bản chất giải phóng sâu sắc. Người tiếp thu và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giải phóng con người, song xuất phát từ thực tiễn Viêt Nam, Người cho rằng cách mạng Việt Nam, trước hết là giải phóng dân tộc, tiếp sau là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và cuối cùng là giải phóng mỗi cá nhân con người. Như vậy, mục tiêu cuối cùng của cách mạng không phải là quyền lực tự thân, mà là giải phóng con người, đưa con người từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ xã hội và làm chủ chính mình, con người được tự do, hạnh phúc..

Trong mối quan hệ đó, dân chủ vừa là điều kiện, vừa là phương thức để thực hiện sự giải phóng con người. Khi nhân dân thực sự làm chủ, con người sẽ không còn bị áp đặt, bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đây chính là biểu hiện cụ thể sinh động của quá trình giải phóng con người trên phương diện chính trị - xã hội, đồng thời là tiền đề để giải phóng con người trên các phương diện khác.

Không dừng lại ở giải phóng, chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ còn thể hiện ở mục tiêu phát triển con người toàn diện, bao gồm cả nâng cao đời sống vật chất, phát triển trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức và hoàn thiện nhân cách. Con người không chỉ được giải phóng khỏi đói nghèo, lạc hậu, mà còn phải được tạo điều kiện để phát triển năng lực, phát huy phẩm giá và đóng góp vào sự tiến bộ của xã hội.

Để thực hiện mục tiêu đó, Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò của giáo dục và rèn luyện đạo đức trong phát triển con người. Người khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa”[viii]. Điều đó cho thấy, phát triển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự gia tăng về mặt vật chất hay tri thức, mà còn là quá trình hình thành những con người có lý tưởng, có đạo đức và có năng lực làm chủ xã hội khi con người được đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa quyền lợi và nghĩa vụ.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn đặc biệt coi trọng việc tạo môi trường xã hội thuận lợi để con người phát triển toàn diện. Người yêu cầu phải xây dựng một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”, trong đó, mỗi cá nhân đều có cơ hội phát triển và cống hiến. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo đời sống nhân dân, bởi theo Người: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi”[ix].

3. Nội dung chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dâ chủ

Nếu “bản chất” chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trả lời câu hỏi dân chủ vì ai, thuộc về ai, thì nội dung tập trung giải đáp một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận đặc biệt quan trọng: dân chủ được thực hiện như thế nào để thực sự mang giá trị nhân văn sâu sắc trong đời sống xã hội. Vì vậy, nội dung chiều sâu nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ không chỉ thể hiện ở mục tiêu hướng tới con người, mà còn ở con đường, phương thức hiện thực hóa mục tiêu đó trong đời sống thực tiễn. Có thể khái quát những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, khẳng định và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực

Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, nội dung cốt lõi làm nên chiều sâu nhân văn của tư tưởng dân chủ chính là việc khẳng định và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây không chỉ là một nguyên tắc chính trị cơ bản, mà còn là biểu hiện tập trung của quan niệm nhân văn sâu sắc: con người, với tư cách là nhân dân, phải thực sự trở thành chủ thể của quyền lực, của quá trình phát triển và của mọi giá trị xã hội.

Theo, Hồ Chí Minh, quyền làm chủ của nhân dân chính là bản chất của chế độ mới: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”[x]. Khẳng định nước nhà do nhân dân làm chủ, một mặt xác lập địa vị chính trị- pháp lý của nhân dân trong xã hội, mặt khác thừa nhận tính chính danh của Nhà nước, ở đó, mọi quyền lực đều bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân và phải phục vụ lợi ích của nhân dân;  nhân dân không còn là đối tượng bị quản lý, mà là chủ thể của quyền lực.

Không dừng lại ở việc khẳng định về nguyên tắc, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phải bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn. Người chỉ rõ: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”[xi].

Đặc biệt, Hồ Chí Minh luôn gắn quyền làm chủ của nhân dân với cơ chế thực hành dân chủ cụ thể, rằng, dân chủ không chỉ là quyền được ghi nhận, mà còn là quyền được thực thi và bảo vệ bằng những thiết chế và phương thức cụ thể: Nhân dân có quyền kiểm soát Chính phủ, phê bình Chính phủ, thậm chí theo Người “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”[xii]

Hơn nữa, Hồ Chí Minh còn chú trọng đến trách nhiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ trong việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định: “Cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân, vì “dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng[xiii] Điều này cho thấy: quyền lực nhà nước chỉ có ý nghĩa khi phục vụ nhân dân, bảo đảm và hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân; cán bộ, đảng viên phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Theo Người, muốn nhân dân thực sự làm chủ thì cán bộ phải “làm cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”[xiv]. Đây là biểu hiện sinh động của một quan niệm dân chủ mang tính nhân văn sâu sắc, trong đó con người không chỉ được trao quyền, mà còn được tạo điều kiện để thực hiện quyền một cách hiệu quả.

Thứ hai, thực hiện dân chủ gắn với công bằng, bình đẳng xã hội

Theo Hồ Chí Minh, dân chủ không chỉ được hiểu như một thiết chế chính trị bảo đảm các quyền tự do hình thức, mà quan trọng hơn, phải được hiện thực hóa bằng những giá trị cụ thể trong đời sống xã hội, trước hết là công bằng và bình đẳng.

Hồ Chí Minh cho rằng, dân chủ chân chính phải gắn liền với việc bảo đảm quyền lợi thiết thực của nhân dân, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Rằng, mục tiêu cao nhất của dân chủ không dừng lại ở quyền chính trị, mà phải hướng tới việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm sự công bằng, trước hết trong phân phối thành quả phát triển. Từ đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội trong phân phối lợi ích, công bằng trong lao động, vừa là cơ sở để khuyến khích sản xuất, phát triển kinh tế, đồng thời hạn chế các biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, bất công trong xã hội. Người nhấn mạnh nguyên tắc: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[xv]. Theo Người, chỉ khi bảo đảm được sự công bằng hợp lý trong phân phối thì dân chủ mới có nền tảng bền vững.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh đến bình đẳng về cơ hội phát triển cho mọi người dân. Người nhiều lần khẳng định, trong xã hội mới, mọi người đều có quyền học tập, lao động và phát triển toàn diện. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người đã nêu rõ nhiệm vụ cấp bách là chống “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, trong đó đặc biệt coi trọng việc nâng cao dân trí, tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận giáo dục. Điều này phản ánh tư duy nhất quán của Người: dân chủ phải gắn liền với việc mở rộng cơ hội phát triển cho toàn xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. Người căn dặn: Phải hết sức quan tâm sâu sắc đối với các nhóm yếu thế trong xã hội, nhất là những người nghèo khổ.

Thứ ba, xây dựng phong cách dân chủ trong lãnh đạo và quản trị xã hội

Không chỉ dừng lại ở việc xác lập các nguyên tắc và thiết chế dân chủ, Hồ Chí Minh còn đặc biệt coi trọng việc hình thành phong cách dân chủ trong hoạt động lãnh đạo và quản trị xã hội, phương diện thể hiện rõ chiều sâu nhân văn trong văn hóa chính trị, góp phần làm cho dân chủ trở thành một phương thức ứng xử thường xuyên, sống động trong đời sống xã hội.

Trước hết, Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực sự tôn trọng nhân dân, gần gũi và lắng nghe ý kiến của nhân dân: “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”[xvi]. Theo Người, nhân dân không chỉ là đối tượng phục vụ, mà còn là chủ thể sáng tạo, là nguồn gốc của mọi chủ trương, chính sách đúng đắn. Vì vậy, phong cách dân chủ trước hết phải được thể hiện ở thái độ tôn trọng, cầu thị, biết dựa vào dân,  biết lắng nghe dân và phát huy trí tuệ của nhân dân trong quá trình lãnh đạo và quản trị xã hội. Người đặc biệt đề cao việc thực hành đối thoại, phê bình và tự phê bình, xem đây là phương thứ cơ bản thực hành dân chủ, phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng: “Do tự phê bình và phê bình… mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ”[xvii]. Mở rộng ra toàn xã hội, tinh thần này tạo nên môi trường dân chủ, cởi mở, nơi mọi ý kiến được lắng nghe và tôn trọng trên tinh thần xây dựng. Đây chính là biểu hiện sinh động của dân chủ thực chất, chống lại mọi biểu hiện độc đoán, áp đặt.

Theo Người, xây dựng phong cách dân chủ phải đồng thời với kiên quyết chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tiễn; quan liêu không chỉ làm suy yếu hiệu lực quản lý mà còn làm tổn hại bản chất dân chủ của chế độ, bởi nó cắt đứt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Người nhiều lần phê phán: “Quan liêu là xa rời quần chúng, không hiểu biết tình hình của quần chúng”[xviii]. Do đó, xây dựng phong cách dân chủ đòi hỏi cán bộ phải thường xuyên sâu sát cơ sở, nắm bắt thực tiễn, nói đi đôi với làm, chống mọi biểu hiện cửa quyền, hách dịch. Rằng, quyền lực không phải là công cụ thống trị, mà là phương tiện phục vụ nhân dân. Phong cách dân chủ trong lãnh đạo vì thế không chỉ là yêu cầu về phương pháp công tác, mà còn là biểu hiện của đạo đức cách mạng, của văn hóa ứng xử giữa con người với con người trong xã hội mới. Khi dân chủ trở thành phong cách, trở thành thói quen ứng xử hằng ngày, nó sẽ thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, từ hoạt động của bộ máy nhà nước đến quan hệ xã hội, cộng đồng.

Thứ tư, không ngừng mở rộng và hoàn thiện dân chủ trong quá trình phát triển

Dân chủ, trong tư duy chính trị của Hồ Chí Minh, không phải là một trạng thái tĩnh tại, bất biến, mà là một quá trình vận động, phát triển không ngừng, gắn liền với sự trưởng thành của xã hội và con người.

Theo Hồ Chí Minh, việc mở rộng dân chủ không thể tách rời điều kiện kinh tế, văn hóa, trình độ dân trí và năng lực tổ chức của xã hội. Vì vậy, cần từng bước phát triển các hình thức và cơ chế dân chủ phù hợp, bảo đảm cho nhân dân ngày càng tham gia sâu rộng và thực chất hơn vào đời sống chính trị - xã hội. Đồng thời, Người luôn nhấn mạnh yêu cầu thường xuyên bổ sung, hoàn thiện dân chủ cả về nội dung và hình thức: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”[xix]. Điều đó cho thấy, dân chủ không chỉ là những quy định đã có, mà còn là một quá trình không ngừng tự điều chỉnh, đổi mới, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn. Việc hoàn thiện dân chủ vì thế phải gắn liền với việc phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng không gian đối thoại xã hội và bảo đảm quyền tham gia của nhân dân trong mọi lĩnh vực.

Ở một bình diện sâu xa hơn, tư tưởng này phản ánh rõ quan điểm phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh. Dân chủ không chỉ nhằm giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, mà còn tạo điều kiện để con người không ngừng hoàn thiện bản thân, nâng cao năng lực làm chủ và tham gia ngày càng chủ động, tích cực và hiệu quả vào các quá trình xã hội. Vì vậy, việc mở rộng và hoàn thiện dân chủ thực chất là quá trình mở rộng các điều kiện để con người phát triển cả về trí tuệ, năng lực và phẩm chất.

Từ góc độ chiều sâu nhân văn, có thể thấy rằng, quan niệm về dân chủ như một quá trình vận động, phát triển liên tục đã thể hiện rõ tư duy động, linh hoạt và tiến bộ của Hồ Chí Minh. Dân chủ không bị đóng khung trong những khuôn mẫu cứng nhắc, mà luôn được điều chỉnh, bổ sung để ngày càng bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân và các điều kiện phát triển toàn diện của mỗi cá nhân trong xã hội.

4.Gia trị thời đại chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ chí Minh về dân chủ

Giá trị của chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ chính là việc  đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi giá trị, biến dân chủ thành con đường để giải phóng, phát triển toàn diện con người. Dân chủ không chỉ là quyền lợi, mà là trách nhiệm gắn với hạnh phúc, sự phát triển và phẩm giá của mỗi cá nhân. Đồng thời, giá trị luôn mang tính động, phát triển, đòi hỏi dân chủ phải không ngừng được mở rộng, hoàn thiện, phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội, góp phần xây dựng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng thực chất, vì con người và do con người.

Giá trị nhân văn sâu sắc, cốt lõi được thể hiện:

Một là, giá trị lấy con người làm trung tâm của dân chủ .

 Giá trị nhân văn sâu sắc của tư tưởng dân chủ Hồ Chí minh thể hiện trước hết và trên hết là vì con người, do con người và phục vụ con người. Con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi quá trình phát triển, vừa là chủ thể sáng tạo, thực hành dân chủ, vừa là mục tiêu hướng tới của toàn bộ hệ giá trị dân chủ. Chính vì vậy, dân chủ không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, mà còn nhằm giải phóng con người, phát triển con người một cách toàn diện, qua đó hiện thực hóa giá trị nhân văn sâu sắc của chế độ. Dân chủ không chỉ là quyền lợi, mà là con đường giúp con người phát triển toàn diện, hướng đến tự do và hạnh phúc.

Hai là, giá trị bảo đảm sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ trong thực hành dân chủ.

 Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ không được quan niệm như sự thụ hưởng đơn thuần các quyền tự do của cá nhân, mà luôn đặt trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội. Mỗi người dân, với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước, vừa được bảo đảm các quyền dân chủ cơ bản, vừa phải có trách nhiệm tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển chế độ. Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ không chỉ bảo đảm cho dân chủ được thực hiện một cách thực chất, bền vững, mà còn góp phần hình thành ý thức công dân, nâng cao phẩm giá con người và củng cố nền tảng đạo đức xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ba là, giá trị đề cao phương diện đạo đức- nhân văn của dân chủ

 Đồng thời với nguyên tắc chính trị - pháp lý về sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ, dân chủ còn mang chiều sâu đạo đức -  nhân văn sâu sắc, thể hiện ở trách nhiệm xã hội và sự tôn trọng, bảo vệ phẩm giá con người. Theo đó, việc thực hành dân chủ không chỉ đòi hỏi khuôn khổ pháp lý, mà còn yêu cầu mỗi cá nhân phải chủ động, tự giác, tích cực thực hiện trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội, đồng thời tôn trọng và gìn giữ phẩm giá của bản thân và của người khác. Chính trên nền tảng đó, dân chủ được nâng lên thành một giá trị văn hóa, góp phần hình thành con người phát triển toàn diện, có ý thức trách nhiệm và hướng tới các chuẩn mực nhân văn tiến bộ của xã hội.

Bốn là, giá trị phát triển năng động, không ngừng hoàn thiện của dân chủ.

 Dân chủ, không phải là một trạng thái tĩnh, bất biến, mà là một quá trình luôn vận động, phát triển cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội. Nội dung và hình thức thực hành dân chủ không ngừng được bổ sung, hoàn thiện và mở rộng, phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Chính tính động đó bảo đảm cho dân chủ luôn thích ứng với thực tiễn, ngày càng đi vào chiều sâu, trở thành động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội và sự phát triển toàn diện của con người.

Năm là, giá trị định hướng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất.

Gịá trị chiều sâu nhân văn của dân chủ giữ vai trò nền tảng, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng và vận hành chế độ xã hội mới. Dân chủ không chỉ là mục tiêu hướng tới mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, được thể hiện tập trung trong việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên cơ sở đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân được bảo đảm và phát huy trong thực tiễn, góp phần hình thành một xã hội công bằng, tiến bộ, lấy con người làm trung tâm và hướng tới sự phát triển toàn diện của con người.

5. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người, phản ánh sự kết tinh sáng tạo giữa truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam và những giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại, trong đó có chủ nghĩa Mác- Lênin. Trong hệ thống tư tưởng đó, chiều sâu nhân văn của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh thể hiện nhất quán ở quan niệm lấy con người làm trung tâm của sự phát triển, coi nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, đồng thời là mục tiêu và động lực của mọi quá trình phát triển xã hội.

Thông qua việc khẳng định quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, cũng như gắn dân chủ với quyền con người và sự phát triển toàn diện của con người, Hồ Chí Minh đã hình thành nên một hệ thống quan điểm về dân chủ mang đậm chiều sâu nhân văn phong phú và đặc sắc. Những quan điểm đó không chỉ có ý nghĩa đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chế độ mới ở Việt Nam trong thế kỷ XX, mà còn có giá trị định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

Trong bối cảnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, mà còn là nền tảng tư tưởng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, chiều sâu nhân văn của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh tiếp tục là nguồn lực tinh thần to lớn, định hướng cho việc phát huy sức mạnh của nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Việc nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo những giá trị đó trong thực tiễn không chỉ góp phần làm phong phú thêm lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mà còn khẳng định giá trị thời đại bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình phát triển của dân tộc./.



[i] Hồ Chí Minh , Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, H 2011, Tập 4 tr 64

[ii]Sđd, t 9, tr. 382

[iii] Sđd, t 4, tr. 64 - 65,

[iv] Sđd t.4, tr.187

[v] Sdd.t 9, tr.258

[vi]  Sđd, t 6, tr 232

[vii] Sđd, t 4, tr.564-65

[viii] Sđd, t 11, tr.66.

[ix] Sđd, t. 9, tr. 518

[x] Sdd, t. 9, tr 258.

[xi] Sđd, t.6, tr.232

[xii] Sdd t.5. tr 75

[xiii] Sđd, t.10, tr.572

[xiv] Sđd, t. 5, tr. 191

[xv] Sđd, t.9. tr.175

[xvi] Sdd t.4, tr.65

[xvii] Sđd, t.,8 tr.223

[xviii] Sđd, t.6, tr.88-89

[xix] Sđd, t.10, tr.378

 


Tin cùng chuyên mục